Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Kinh nghiệm SX

Lúa mì

Một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm sự phát triển vững chắc nền nông nghiệp của mỗi nước, mỗi địa phương là biết dựa vào đặc điểm sinh học của cây trồng để khai thác tiềm năng kinh tế của chúng trong từng điều kiện sinh thái cụ thể, tạo điều kiện để chúng cho năng suất cao nhất, đồng thời thông qua các công thức luân canh hợp lý hỗ trợ cho những cây trồng khác trong hệ thống cơ cấu cây trồng của mỗi vùng phát huy cao nhất tiềm năng của mình.

Chọn đúng cơ cấu cây trồng cho từng khu vực với đặc điểm khí hậu thổ nhưỡng xác định sẽ cho phép giảm nhẹ mức đầu tư kỹ thuật và nhân lực, nhờ đó nâng cao đáng kể hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp. Từ bao đời nay, rau và hoa Đà Lạt đã trở thành cây trồng truyền thống, trước hết bởi vì chúng tỏ ra thích nghi tốt với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tại đây. Vì vậy, thật sai lầm nếu người Đà Lạt bắt những cây trồng quen thuộc của mình nhường chỗ cho những cây hoàn toàn mới lạ.

Tuy nhiên cũng cần phải nhận thấy rằng nông nghiệp Đà Lạt đang gặp hàng loạt khó khăn do tình trạng độc canh hay "luân canh nửa vời" gây ra. Rõ ràng phải đưa vào cơ cấu cây trồng của nông nghiệp Đà Lạt một số thành phần mới vừa để khai thác tốt hơn đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương vừa để nâng cao hơn nữa hiệu quả canh tác những cây trồng truyền thống như khoai tây, sú , hoa lay-ơn, hoa lys v.v...

Với hướng suy nghĩ đó, từ năm 1983 đến nay, khoa sinh học trường Đại học Đà Lạt cùng một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất của địa phương đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu với hai loại ngũ cốc ôn đới là đại mạch (Hordeum) và lúa mì (Triticum) nhập nội từ nhiều nước khác nhau, kết quả của những nghiên cứu này cho thấy hai loại ngũ cốc nói trên hoàn toàn có thể đưa vào cơ cấu cây trồng của Đà Lạt và một số huyện vùng cao của Lâm Đồng.

Kết quả khảo sát một tập đoàn gồm 17 giống đại mạch nhập từ Liên Xô, Nhật Bản, Hà Lan và Ca-na-đa thực hiện trong hai năm 1983-1984 cho thấy 15 giống trong số đó đều sinh trưởng rất tốt trên các nền đất khác nhau của Đà Lạt và Đức Trọng, đặc biệt là trên những nền đất dễ thoát nước, giàu dinh dưỡng và có pH 7-8. Những giống này gieo trồng vào tháng 9-10 dương lịch đều cho năng suất khá cao. Trên các diện tích thí nghiệm với quy mô nhỏ và chăm sóc hết sức chu đáo, năng suất đạt được từ 50 đến 80 tạ/ ha, trong đó giống 6 hàng hạt Api-67 của Liên Xô (thuộc loài Hordeum vulgare) luôn cho năng suất cao nhất, tính ưu việt của giống này còn thể hiện ở chỗ thời gian sinh trưởng của nó cực ngắn. Trong điều kiện nước và phân đầy đủ, nhiệt độ và ánh sáng thích hợp từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch chỉ mất 60-65 ngày; trong điều kiện ngoại cảnh không được thuận lợi lắm, thời gian sinh trưởng thường không kéo dài quá 70 ngày. Giống hai hàng hạt Azuma của Nhật (thuộc loài H. distichum) cũng là một giống có năng suất khá cao tuy thời gian sinh trưởng có phần dài hơn (70-75 ngày).

Đại mạch sẽ cho năng suất cao và ổn định nếu cùng với việc cung cấp đầy đủ phân và nước, đất canh tác trước khi trồng được bón vôi để đưa pH về giá trị gần trung tính. Ngoài ra, đồng là một nguyên tố vi lượng không thể thiếu được đối với loại cây trồng này. Trong các thí nghiệm về phân bón, chúng tối nhận thấy để giống Api-67 đạt được năng suất 50 tạ/ ha cần cung cấp cho nó NPK theo công thức 120:120:160. Trồng thử trên diện tích lớn theo kiểu chăm sóc đại trà với công thức phân bón này chúng tôi thu được trong 2 năm 1986-1987 trung bình 25 tạ/ ha. Trại khoai tây Thái Phiên trên nền đất trồng khoai tây vụ trước với chế độ phân bón N80P80K80 và 20m3 phân chuồng ha, năng suất trung bình từ 1984 đến nay giao động từ 15 đến 42 tạ/ ha. Trại hoa bia đại mạch Đức Trọng, trại giống rau Đà Lạt và một số cơ sở sản xuất khác của thành phố gieo trồng Api-67 trong vụ đông xuân với diện tích lớn cũng đã thu được kết quả tương tự.

Về cây lúa mì, trong những năm 1984-1985, chúng tôi đã khảo sát một tập đoàn gồm 5 giống của Băng-la-dét do giáo sư Võ Tòng Xuân cung cấp. Kết quả cho thấy 5 giống trong số này đều có thể cho năng suất từ 3,5 đến 6,8 tấn/ ha. Thời gian sinh trưởng của tất cả các giống này đều vào khoảng 90 ngày. Do chịu được độ ẩm cao nên ở Đà Lạt có thể gieo trồng những giống lúa mì này vào cuối mùa mưa (tháng 8-9 dương lịch) để thu hoạch vào đầu mùa khô, kịp giải phóng đất cho gieo trồng vụ rau trước tết dương lịch. Thí nghiệm trồng đại mạch của trại hoa bia trong nhiều năm với giống Thanh Uyên và một vài giống khác cũng thu được những kết quả tương tự. Bên cạnh những giống nói trên, bằng phương pháp xử lý bức xạ bằng gama liều cao, khoa sinh học trường đại học Đà Lạt cũng đã tạo được một số dòng nửa lùn cho năng suất khá cao và có sức đề kháng tốt. Trong 3 năm liền, hai trong số những giống này liên tục cho năng suất không thua kém giống gốc và không bị sâu bệnh phá hoại.

Trên diện tích lớn, gieo trồng vào trung tuần tháng 8 dương lịch, tại Đức Trong, một số giống lúa mì liên tục trong nhiều năm cho năng suất trên 20 tạ/ ha. Nếu đầu tư them phân bón và tưới đủ nước, chắc chắn mức thu hoạch sẽ còn cao hơn nhiều.

Sâu bệnh đối với cả đại mạch và lúa mì, qua nhiều năm khảo sát, chúng tôi nhận thấy không phải là vấn đề đáng lo ngại. Đáng quan tâm hơn cả là bệnh đốm nâu do nấm Helminthosporiun sativum gây thiệt hại đáng kể cho những diện tích đại mạch bị rơi vào thời tiết quá ẩm ướt do mưa kéo dài trong nhiều ngày. Tuy nhiên bệnh không gây thiệt hại gì lớn đối với cây lúa mì trong điều kiện bất lợi nói trên. Nếu thời tiết khô ráo, nó cũng không phát triển được trên cây đại mạch. Vì vậy, hoàn toàn có thể tránh được bệnh này nếu gieo trồng đại mạch đúng thời vụ, tránh được những cơn mưa dầm cuối thu. Một số loài sâu hại như sâu cắn lá, sâu đục thân, rệp... gây tác hại không đáng kể và có thể phòng trừ dễ dàng bằng các loại thuốc sâu rầy thông dụng như Furadan, basudin, Methylparathion v.v...

Những dẫn liệu nêu ra trên đây cùng với nhiều kết quả thí nghiệm khác mà chúng tôi đã thu được trong nhiều năm tìm hiểu 2 loại cây lương thực có giá trị này cho phép chúng tôi nghĩ rằng lúa mì và đại mạch cần được đưa vào cơ cấu cây trồng của Đà Lạt. Không những chúng sẽ góp phần quan trọng vào việc giải quyết nạn thiếu hụt lương thực hiện nay mà còn dẫn đến việc giảm nhẹ một cách đáng kể công tác bảo vệ thực vật đối với những cây truyền thống của địa phương do làm gián đoạn chu kỳ sinh trưởng và phát triển của sâu hại và của các nguồn bệnh khác.

Ở miền Bắc, lúa mì và đại mạch đã được trồng từ nhiều năm nay ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình v.v... trên diện tích khá lớn, có năm lên đến hàng ngàn ha. Mặc dù điều kiện khí hậu không thuận lợi bằng Đà Lạt - Lâm Đồng nhưng nhiều nơi đã đạt được năng suất 30-50 tạ/ha. Mặc dù có nhựng năm diện tích bị thu hẹp đáng kể nhưng gần đây lại có chiều hướng tăng lên. Các chuyên gia Liên Xô đang giúp Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm của ta tiến hành khảo sát hàng trăm giống mì mạch khác nhau để chọn những giống thích hợp nhất với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của các tỉnh nước ta từ Bắc đến Nam. Phải chăng đã đến lúc Đà Lạt mạnh dạn nhận nhiệm vụ sản xuất giống mì mạch cho cả nước?

Thay đổi tập quán sản xuất lâu đời không phải là một việc dễ làm. Người nông dân sẽ nêu lên hàng loạt câu hỏi buộc chúng ta, những cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế và quản lý nhà nước phải trả lời một cách thỏa đáng để họ đủ niềm tin trồng lúa mì và đại mạch trên mảnh đất của mình. Về phần mình, chúng tôi hy vọng sẽ có dịp được tiếp tục bàn đến nhiều khía cạnh khác, chi tiết hơn về những vấn đề kỹ thuật vốn chưa được bàn đến trong bài này.

PTS. MAI XUÂN LƯƠNG
Trường Đại học Đà Lạt

Nguồn: Thông tin khoa học và kỹ thuật Lâm Đồng


° Các tin khác
• Những điều cần biết về thuốc bảo vệ thực vật
• Hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu sinh học bảo vệ cây trồng
• Nhện đỏ hại chè
• Cây chôm chôm
• Cách giữ giống Tảo
• Quản Lý Chăm Sóc Vườn Tiêu
• Sử dụng thuốc sinh học BT 
• Chăm Sóc Mãng Cầu Dai
• Phương pháp giúp cây không gãy nhánh khi trái quá nhiều
• Giết mổ gà - biện pháp được áp dụng trong chăn nuôi gia đình
• Bệnh nấm hại tằm
• Bệnh mốc sương khoai tây và cách phòng trừ
• Làm sao phòng bệnh gà rù
• Bảo vệ nguồn gen và khai thác kết quả tạo trầm trên cây trầm hương
• Kỹ thuật trồng Rong sụn trong đầm vịnh kín gió
• Kỹ thuật trồng Rong sụn trong ao nuôi Tôm
• Phòng trừ sâu bệnh đầu vụ lúa hè thu - P3
• Phòng trừ sâu bệnh đầu vụ lúa hè thu - P2
• Phòng trừ sâu bệnh đầu vụ lúa hè thu - P1
• Phòng và trị bệnh đối với mô hình nuôi ếch Thái
• kỹ thuật nuôi lươn mới
• Yến Sào: Loài chim kỳ lạ
• Vàng xanh của biển
• Sâu xanh da láng và biện pháp phòng trừ
• Bón phân cho mô hình trồng màu dùng màng phủ NN
• Dùng Tilt-Super xử lý hãm đọt dưa hấu để nuôi trái
• Kỹ thuật trồng ngò rí lấy hạt
• Kỹ thuật nuôi Gà ác
• Sử dụng máy đo độ pH
• Sử dụng hiệu quả máy bơm khí cho nuôi tôm

 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb