Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Kinh nghiệm SX

Lúa rơi vãi, thất thoát lớn đối với người nông dân

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, quá trình canh tác cây lúa nói riêng. Chi phí sản xuất luôn chi phối suốt quá trình sản xuất. Có những loại chi phí xem như là bắt buộc nông dân phải chấp nhận, nhưng cũng loại đáng lẽ không đáng có, chúng ta hoàn toàn có thể đưa ra các giải pháp để khắc phục được. Chẳng hạn như lượng lúa rơi vãi hàng năm trên đồng ruộng, lượng lúa rơi rớt trong quá trình vận chuyển và trong xay xát.

Theo Báo cáo Tổng hợp của Trường ĐH Cần Thơ về “ Nghiên cứu hiện trạng – Đánh giá nhu cầu sau thu hoạch ở ĐBSCL”( Hợp phần sau thu hoạch ) cho thấy: Hàng năm lượng lúa rơi vãi cho cả ĐBSCL được qui ra tiền là 3.370 Tỷ đồng, riêng ở An Giang thì chi phí này cũng chiếm khoảng 484 tỷ đồng. Vậy, chúng ta thử tìm hiểu lượng lúa rơi vãi bằng những con đường nào, nguyên nhân và đưa ra các biện pháp để khắc phục.

Đánh giá những thất thoát sau thu hoạch và nguyên nhân

Một cách tổng quát, những công đoạn chính gây những thất thoát sau thu hoạch trên lúa bao gồm khâu thu hoạch, gom, suốt lúa, phương pháp phơi, điều kiện tồn trữ và xay chà. Những thất thoát sau thu hoạch trên lúa tuỳ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, vùng sinh thái nông nghiệp và phương pháp xử lý sau thu hoạch của con người áp dụng vào.

Thất thoát do cắt và gom lúa :

Việc cắt và gom lúa thường thực hiện hoàn toàn bằng thủ công. Thất thoát do các khâu cắt và gom có thể bao gồm nhiều yếu tố như do giống, thu hoạch trể, lúa đỗ ngã ở thời điểm thu hoạch, thời tiết xấu, bó và vận chuyển, v.v. Thất thoát do cắt và gom lúa vụ Hè thu (HT) và Thu đông (TĐ) cao hơn vụ Đông xuân (ĐX). Điều này do vụ HT thu hoạch rơi vào mùa mưa, lúa thường đỗ ngã, trở ngại trong việc cắt và gom.

Một cách cụ thể, tỷ lệ thất thoát trung bình do khâu cắt và gom được ước tính như sau :

Vụ HT là : 3.32%, vụ TĐ là 3.24% và vụ ĐX là 2.26%.

Thất thoát do khâu suốt ra hạt :

Thất thoát do khâu suốt thì ít hơn khâu cắt. Những thất thoát này có thể do hạt lúa dính với rơm, cách cho ăn khi suốt lúc thời tiết xấu. Thất thoát do suốt lúa ở vụ TĐ và HT có xu hướng cao hơn ở vụ ĐX. Cụ thể là : Vụ HT là : 2.32%, vụ TĐ là 2.67% và vụ ĐX là 1.71%.

Thất thoát do khâu phơi lúa :

Làm khô lúa là bước quan trọng nhất trong các khâu sau thu hoạch. Nó không những chịu thất thoát tồn trữ, thất thoát xay chà, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của lúa hàng hoá.

Thất thoát do phơi tuỳ thuộc vào các phương tiện phơi. Hiện tại nông dân áp dụng phương pháp phơi nắng, rất ít nông dân sấy lúa. Thất thoát do phơi nắng có thể gây ra bởi thời tiết xấu (mưa), hạt rơi vãi và đôi khi mưa liên tục làm lúa mộc mầm. Tỷ lệ thất thoát trong vụ HT cao nhất so với vụ TĐ và ĐX. Điều này do vụ HT mưa nhiều gây thất thoát cao khi phơi. Một cách cụ thể, trung bình tỷ lệt thất thoát do phơi ở từng vụ như sau : Vụ HT là : 2.94%, vụ TĐ là 1.31% và vụ ĐX là 1.36%

Thất thoát do tồn trữ :

Nông dân thường tồn trữ lúa gạo của họ rất đơn giản, sử dụng bồ hay dùng bao để tồn trữ. Thất thoát do tồn trữ bao gồm do côn trùng, chuột, hay hư tổn do nấm mốc trong quá trình tồn trữ. Tuy nhiên, nông dân thường tồn trữ lúa của họ trong thời gian rất ngắn, và nhiều trường hợp nông dân thường bán lúa ngay sau khi phơi. Ước tính trung bình tỷ lệ thất thoát do tồn trữ cho các vụ như sau : Vụ HT là : 1.70%, vụ TĐ là 1.40% và vụ ĐX là 1.60%.

Thất thoát do khâu vận chuyển :

Thất thoát do khâu vận chuyển được tính thông qua ước lượng sự hao hụt trong quá trình vận chuyển lúa hạt từ đồng về nhà, vận chuyển lúa đem phơi, tồn trữ hay đem bán. Việc ước tính tổn hại do vận chuyển chỉ mang tính tương đối. Thất thoát do khâu vận chuyển thí rất thấp so với các khâu khác sau thu hoạch. Thất thoát do khâu vận chuyển ở từng vụ như sau : Vụ HT là : 0.26%, vụ TĐ là 0.57% và vụ ĐX là 0.37%.

Thất thoát do khâu xay chà :

Thất thoát trong khâu xay chà được ước lượng thông qua tỉ lệ gạo nguyên thu hồi, tỉ lệ xay chà. Trong khi tỷ lệ xay chà bị ảnh hưởng vào chất lượng lúa khi đem xay chà (chất lượng lúa ở mùa vụ), và chất lượng nhà máy xay chà (máy lớn máy nhỏ). Theo số liệu điều tra, tỷ lệ xay chà (gạo thu hồi) cho lúa vụ HT là 60% và cho lúa ĐX là 65%, trong khi tỷ lệ này ở nhà máy xay chà loại nhỏ từ 55 – 60% và máy cỡ lớn là 60 - 68%. Trung bình tỷ lệ thất thoát do xay chà không khác nhau nhiều. Cụ thể là : Vụ HT là : 1.9%, vụ TĐ là 2.1% và vụ ĐX là 2.3%.

Tổng thất thoát sau thu hoạch :

Một cách tổng quát, những thất thoát sau thu hoạch thì tuỳ thuộc rất lớn vào mùa vụ, địa phương hay vùng sinh thái. Ví vụ, vùng bị ảnh hưởng lũ như An Giang, thất thoát sau thu hoạch có khuynh hướng cao hơn các tỉnh khác. Trung bình tổng thất thoát cho mỗi vụ lúa là 11.12%. Theo kết quả tổng hợp từ các điều tra ở ĐBSCL, tổng thất thoát sau thu hoạch của vụ HT và TĐ và TĐ cao hơn vụ ĐX. Cụ thể là :

- Tổng thất thoát sau vụ thu hoạch của vụ HT : 12.42%.

- Tổng thất thoát sau vụ thu hoạch của vụ TĐ : 11.31%.

- Tổng thất thoát sau vụ thu hoạch của vụ ĐX : 12.42%.

Như vậy, theo kết quả phân tích trên và dựa vào kết quả sản xuất lúa tỉnh An Giang năm 2002, sản lượng vụ ĐX là 1.430.905 tấn, vụ HT là 956.074 tấn và vụ TĐ là 183.113 tấn, thì lượng thất thoát vụ ĐX là 137.653,1 tấn, vụ HT là 118.744,4 tấn và vụ TĐ là 20.362,17 tấn, tổng cộng thất thoát cả năm là : 276.759,6 tấn lúa, tương đương 484,33 tỷ đồng.

Cũng dựa vào cách phân tích trên, nếu một nông dân có ít đất (0.5 ha), canh tác 3 vụ lúa với năng suất trung bình vụ ĐX là 6.0 tấn/ha, HT là 4.0 tấn/ha và TĐ là 3.7 tấn/ha, với giá lúa năm 2002 là 1750 đ/kg thi nông dân thất thoát đi lượng lúa là 746 kg lúa, tương đương mất đi thu nhập là 1.3 triệu đồng. Như vậy, nếu như hộ nông dân canh tác 3 vụ lúa/năm thì ước tính 1 ha nông dân bị thất thoát 1.492 kg lúa, tương 2.6 triệu đồng. Điều này cũng có nghĩa là thu nhập của nông dân bị mất đi 2.6 triệu đồng/ha/năm do thất thoát sau thu hoạch.

Như vậy, sự thất thoát sau thu hoạch trên lú có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập và đời sống nông dân trồng lúa, đặc biệt là nông dân nghèo ít đất. Sự nghiên cứu làm giảm đi những thất thoát sau thu hoạch sẽ góp phần cải thiện thu nhập cho nông dân nghèo cũng như góp phần hạn chế những tổn thất do sản xuất lúa của tỉnh nhà.

Do đó, sự thật là sản xuất lúa không có lời nhiều do chi phí sản xuất cao, giá nông sản không ổn định và những thất thoát sau thu hoạch như lượng lúa rơi vãi ngoài đồng còn quá nhiều.

Các giải pháp khắc phục

a- Phương pháp chi phí thấp :

- Cắt lúa : Thu hoạch lúa theo phương pháp thủ công. Quan sát đồng ruộng khi thấy lúa chín từ 80-85% là cắt được. Hạn chế lúa ít đỗ ngã và rụng hạt.

- Suốt : Suốt lúa đúng kỹ thuật và cắt lúa đúng cách. Cho lúa ăn vừa phải, cắt lúa không để rạ quá dài. Trải bạt xung quanh máy để lấy lúa rơi vãi.

- Phơi sấy : Phơi lúa trong lều nylon. Lều nylon có khung bằng tre hoặc gỗ, mái được phủ tấm nhựa trong suốt để ánh nắng mặt trời có thể xuyên qua mái che. Hạt lúa được trải trên tấm bạt đặt ở nền lều.

- Tồn trữ : Tồn trữ trong bao. Lúa khô được vô bao, chất thành đống để nơi thoáng mát ở góc nhà. Tồn trữ tạm thời chờ bán.

b- Phương pháp chi phí cao :

- Cắt lúa : Sử dụng máy cắt xếp dãy. Cắt lúa bằng máy cho năng suất thu hoạch cao 3-4 ha/ngày. Không cắt được lúa ngã. Đòi hỏi kỹ thuật và sức khoẻ người sử dụng máy.

- Sấy lúa : Sử dụng máy sấy sấy vĩ ngang (4-6 tấn/mẻ), máy sấy vĩ nghiêng hoặc thông gió đóng hạt. Dễ vận hành, đầu tư trung bình, thích hợp cho hộ có qui mô sản xuất lúa vừa và lớn.

- Tồn trữ : Dùng kho chứa. Kho chứa thông thoáng bằng quạt.

Tóm lại : Việc áp dụng các công nghệ sau thu hoạch là một biện pháp rất quan trọng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng lúa rơi vãi ngoài đồng ruộng cũng như trong việc vận chuyển, tồn trữ. Mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Từng bước cải thiện, nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần cho người dân, nhất là các bà con nông dân ở vùng nông thôn hẻo lánh.

Theo Trần Ngọc Chủng - Phòng Kỹ Thuật (Nông nghiệp An Giang)


° Các tin khác
• Vấn đề về tính miên trạng của hạt giống lúa
• Một số điều lưu ý khi dùng acid Nitric (HNO3) để phá miên trạng lúa giống
• Các yếu tố quyết định thời gian tồn hạt giống
• Làm thế nào để chuẩn bị lượng giống thích hợp
• Xử lý hạt lúa giống
• Kỹ thuật hạt giống
• Quy trình kỹ thuật sau thu hoạch
• Giảm thất thoát lượng đạm trong canh tác lúa
• Kỹ thuật trồng cây đu đủ
• Kỹ thuật trồng Ngô Bao Tử
• Kỹ thuật nuôi Tôm Hùm lồng
• Những điểm cần lưu ý khi nuôi cua ốp thành cua chắc
• Các biện pháp phòng bệnh cho cá
• Kỹ thuật trồng Rong Sụn (Kappaphicus alvarezii)
• Kỹ thuật cấy ngọc trai nước ngọt
• Kỹ thuật nuôi cá Bớp (Boleopthalmus chinensis)
• Kỹ thuật gây giống và nuôi bán nhân tạo Sò Huyết nhân tạo
• Kỹ thuật nuôi cá Chình (ANGUILLIDAE)
• Kỹ thuật nuôi cá Song
• Kỹ thuật nuôi Ngao
• Kỹ thuật nuôi Nghêu
• Kỹ thuật nuôi cá thâm canh
• Kỹ thuật ương cá Hương lên cá giống ba loài cá biển
• kỹ thuật trồng cây Súp Lơ
• Kỹ thuật trồng ớt trái mùa
• Phương pháp trồng ớt ngọt
• Kỹ thuật trồng cây Mây
• Kỹ thuật trồng bắp thu trái non
• Kỹ thuật khai hoang trồng lúa trên đất phèn nặng: “né lũ ém phèn”
• Kỹ thuật chăn nuôi bò cái sinh sản và bò đực giống

 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb