Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Kinh nghiệm SX

Kỹ thuật khai hoang trồng lúa trên đất phèn nặng: “né lũ ém phèn”

TS Mai Thành Phụng được bà con vùng đồng bằng sông Cửu Long yêu mến, quý trọng và thậm chí họ "ghiền" nghe giọng ông mỗi ngày qua sóng phát Với nông dân, ông là vị cứu tinh bởi đã làm sống dậy vùng đất phèn vốn bị ví là quỷ ám.

Dọc theo quốc lộ 62 vào xã Mộc Hóa, Vĩnh Hưng (Long An) vẫn còn sót lại những vạt đất vàng quạch vì phèn từ những năm 1990. Lão nông Tô Trung Tước ở xã Thái Bình Trung (huyện Vĩnh Hưng) bốc một nắm đất lên vo nhuyễn rồi nói: “Hồi tụi tui mới vô đất ở đây toàn như vầy, chẳng trồng trọt gì được, phèn quá nặng”. Vứt nắm đất, ông cười khà khà và chỉ tay vào đám ruộng vụ lúa hè thu xanh tốt kế bên: “Hồi đó ruộng đâu được như vầy, nước phèn chua lét hổng cây gì sống nổi trừ cỏ năn". Vậy mà ông Phụng chỉ tụi tui có một chiêu, từ đó về sau phèn dạt ra hết”.

Từ những năm 1980, các chuyên gia Hà Lan đã đến Đồng Tháp Mười để nghiên cứu về việc cải tạo đất phèn. Nhưng rồi họ phải lắc đầu bỏ đi với câu kết luận: “Đất phèn là loại ma quỷ. Thôi, hãy để nó ngủ yên, đừng đánh thức dậy vì chẳng những không được lợi lộc gì mà con người còn bị nó quậy phá”. Đến đầu những năm 1990, không ít đơn vị kinh tế đưa quân tiến công vào khai phá Đồng Tháp Mười, nhưng phần lớn đều gặp thất bại vì chưa hiểu nhiều về đất phèn. Có lẽ đất phèn sẽ tiếp tục “ngủ yên” nếu... tiến sĩ Mai Thành Phụng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Đồng Tháp Mười không ra "chiêu".

“Chiêu” của ông Phụng chính là một rãnh nước chạy giữa đám ruộng. Thật ra để đúc kết được kinh nghiệm này, ông Phụng đã “rút ruột” hết kho kiến thức trong và ngoài nước về đất phèn, cả của những ông thầy tầm cỡ quốc tế như Hà Lan, Bỉ. Miệt mài nghiên cứu, cuối cùng ông tìm ra điều tưởng rất dễ thấy: nước lũ trên đất phèn không đứng yên. Khi nó hiền hòa như bà tiên, lúc dữ dội như bà chằn. Vậy tại sao ta không “né” nó khi dữ dội, “quản trị” nó khi hiền hòa? Ông bắt đầu nghĩ ra cách “hốt toa thuốc” né lũ ém phèn: vừa ém phèn ở tầng sâu, vừa rửa phèn ở tầng mặt.

Vào đầu mùa khô, khi mặt đất vừa ráo thì ông cho cày đất lên. Trước đây bà con thường nghĩ cày sâu cuốc bẫm là trúng mùa, nay ông điều chỉnh lại chỉ cày cạn trên lớp đất mặt chừng 10-15 cm là đủ, tránh lật lớp đất phèn ở dưới lên nhằm “ém” phèn ở tầng sâu, rồi ông cho đào kênh và đắp bờ hoàn chỉnh. Trong mỗi ô ruộng cũng đào thêm các con mương thoát phèn giáp vòng để việc rỏ phèn xuống mương được nhanh và thuận lợi. Khi lũ về, lợi dụng nước nhiều, ông cho lũ cuốn thoải mái mọi thứ phèn độc hại ra đi. Khi lũ rút chỉ còn lại lớp phù sa chừa lại trên mặt ruộng.

Năm 1994, ông Phụng ra Hà Nội bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ về “kỹ thuật khai hoang trồng lúa trên đất phèn nặng”, và phổ biến cho nông dân áp dụng từ đó đến nay.

Không chỉ vậy, ông Phụng còn nổi tiếng bởi đã tìm ra giống lúa kháng rầy IR 50404. Nông dân Đồng Tháp Mười đến nay vẫn còn nhắc về sự kiện ông Phụng làm lúa giống kháng rầy hồi năm 1991. Vụ hè thu năm đó lũ về khá lớn. Bỗng xuất hiện dịch rầy nâu đánh sập các trà lúa đang xanh tốt. Trong lúc các giống khác bị rầy ăn rụi thì ông phát hiện có một loại vẫn... sống đó là IR 50404. Nó là giống ngắn ngày, có thể trồng chạy lũ được. Ông lập tức cho nhân giống và quyết định làm ngay trong vụ thu đông. Có người phản đối làm vụ hè thu còn chạy lũ trối chết huống gì thu đông, ngay mùa lũ chính vụ. Ông Phụng vẫn quyết tâm: “Không làm thì sang năm giống đâu để làm”. Thế là ông huy động toàn bộ nhân lực của trung tâm và bà con quanh vùng gần 200 người quai đê bảo vệ 100 ha đất chống lũ, xuống giống IR 50404.

Trước cơn lũ hung hãn, ông và đồng sự ngày đêm bám đê, cứ nước lên cao lại bơm tát ra, sạt đê chỗ nào đắp lại chỗ nấy. Ròng rã gần ba tháng trời “ăn trong lũ, ngủ trong lũ mà đi đứng cũng trong lũ”, tới khi ai nấy cũng đều má hóp, râu tua tủa mọc thì cũng là lúc lúa chín. Khi lúa vào kho an toàn thì lũ cũng rút, nông dân bắt đầu xuống giống vụ đông xuân.

Lúc này các tỉnh Long An, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang mới táo tác chạy lo kiếm lúa giống kháng rầy. Năm đó lượng giống cung cấp đủ cho

100.000 ha vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và tới vụ đông xuân 1995 đã có trên 1 triệu ha khắp đồng bằng sông Cửu Long sử dụng giống “lúa ông Phụng”.

Từ đó, giống lúa IR 50404 được công nhận là giống quốc gia. Không dừng lại, ông Phụng tiếp tục chọn được giống lúa ngắn ngày IR 59606 và tức khắc được nông dân sản xuất trên 90.000 ha lúa xuất khẩu.

Sống với nông dân lâu ngày, ông Phụng có thói quen dậy sớm từ 4h sáng. Ông để ý thấy nông dân thức giờ đó chỉ uống trà, phí biết bao thời gian. Ông nghĩ sao mình không truyền cho nông dân cái gì giờ này để nghe nhỉ, rồi sực nhớ đài phát thanh có chương trình “Gia đình bác Tám” được nông dân thích. Vậy là sau đó mỗi ngày từ 4h30', bà con cứ mở đài (Tiếng nói nhân dân TP HCM) là nghe giọng ông Phụng nói về thời tiết, cây lúa, mực nước, phân bón... Ông Tư Tước nói: “Trước đây tui ghiền trà, bây giờ ghiền... nghe ông Phụng nói”.

Ngày 24/9/2000, ngày ra đời một sự kiện trên truyền hình mà nông dân đồng bằng sông Cửu Long còn nhớ như in tới bây giờ: chương trình Nhịp cầu nhà nông. Ngày đó ông Phụng là người đầu tiên đề xướng ra chương trình này và trực tiếp lên truyền hình trả lời kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân. Năm đó cũng là năm hoàn thành cầu Mỹ Thuận. Bà con so sánh cầu Mỹ Thuận nối liền nông dân với thị trường, còn Nhịp cầu nhà nông nối liền nông dân với nhà khoa học.

Giờ đây ông xuất hiện đều đặn trên các đài truyền hình Long An, TP HCM, Cần Thơ, VTV trong các chuyên mục khuyến nông. Sắp tới, khoảng giữa tháng 8, sẽ có chương trình trả lời trực tiếp của ông Phụng trên sóng phát thanh của Đài TP HCM. Ông nói: “Công trình khoa học mà để trong ngăn kéo cũng thành vô dụng. Phải đem nó xuống cho nông dân sử dụng. Cho nên phải nói ra rả hằng ngày, phải tiếp cận với nông dân hằng ngày qua báo, đài mới đem được kỹ thuật tới nông dân”.

Theo Vietnam Website


° Các tin khác
• Kỹ thuật chăn nuôi bò cái sinh sản và bò đực giống
• Một số kỹ thuật chăm sóc nhãn cho năng suất cao
• Kinh nghiệm nuôi gà tần ở Bắc Giang
• Kinh nghiệm bảo quản bắp
• Khắc phục hiện tượng bắp không hạt
• Chọn nái và nọc làm giống
• Cách chọn dê làm giống
• Nuôi dê sữa
• Nuôi dê thế nào cho hiệu quả?
• Trồng măng đắng, lợi nhiều bề
• Kỹ thuật sạ ngầm lúa trên đất phèn
• Làm tăng số lượng củ giống trong sản xuất khoai tây
• Phương pháp trồng rau ngót
• 10 khâu kỹ thuật giúp giảm chi phí canh tác lúa
• Kinh nghiệm thâm canh cây vụ đông
• Trồng và chăm sóc dưa hấu
• Kỹ thuật chăn nuôi cừu Phan Rang
• Những kiến thức phục vụ phòng chống dịch cúm gà
• Cây lê
• Chuẩn bị đàn cá giống cho năm sau
• Một số biện pháp kỹ thuật nuôi cá lóc trong mùa lũ
• Đắc Lắc: Áp dụng khoa học nâng cao năng suất, chất lượng cà phê
• Bệnh phù thũng ở lợn con
• Điều chú ý khi nuôi heo hướng nạc
• Chăm sóc hươu đực giống và lấy nhung
• Giữ lấy hương cà phê
• Trồng nấm bằng rơm rạ
• Kỹ thuật trồng Chà Là
• Kinh nghiệm sản xuất rau mùa nắng - P2
• Kinh nghiệm sản xuất rau mùa nắng - P1

 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb