Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Trồng

Phát triển nghề trồng rong sụn tạo việc làm

I. Mở đầu

        Hiện nay và trong tương lai ,rong biển vẫn là nguồn vật chất có vị trí quan trọng đối với con người. Vùng ven biển nước ta có khí hậu ôn hoà, là vùng phân bố của có gần một ngàn loài rong biển. Ngày nay, rong biển được sử dụng rộng rãi và có nhiều triển vọng trong phát triển kinh tế xã hội.

        Rong biển chứa nhiều chất dinh dưỡng, các nguyên tố vi lượng, các chất kích thích tố. Vì vậy, chúng có thể sử dụng làm thức ăn trực tiếp cho con người, gia súc, làm thuốc chữa bệnh, phân bón hữu cơ. Quan trọng hơn, rong biển được sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nhiều mặt háng quý, có giá trị sử dụng trong nước và cho xuất khẩu như : Agar, Alginat, Carrageenan. Các chế phẩm từ rong biển được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp dệt vải, sợi nhân tạo, sơn nước, chất dẻo, phim ảnh, in, cao su, các loại kem, xà phòng, y dược, rượu bia, tương, nước hoa quả.

        Do có hàm lượng cao các nguyên tố vi lượng hữu cơ như Mg, Cu, Fe, Mn rong sụn (Kappaphicus alvarezii) là nguyên liệu chủ yếu để chế biến Carrageenan. Ðây là chế phẩm đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như : công nghiệp chế biến thực phẩm, mỹ phẩm, y dược. Polysacharide trong rong sụn có tính nhũ hoá cao, có thể giải độc, chữa các bệnh mãn tính, làm nguyên liêu keo Vì vậy một số nước như Philippin, Inđônêxia đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất rong sụn. Hằng năm, trên thế giới người ta sản xuất được hơn 100 tấn nguyên liệu rong khô. Trong thực đơn của con người hiện nay, rong sụn là một thành phần thực phẩm quan trọng.

        Vùng biển Việt Nam có nhiều loại rong có thể chế biến được Carrageenan. Tuy nhiên, sản lượng khai thác tự nhiên của chúng ít, khả năng nuôi trồng hạn chế do tốc độ phát triển chậm, đòi hỏi điều kiện môi trường khắt khe. Rong sụn là loài có tốc độ sinh trưởng cao, có thể trồng quanh năm và có thể trồng trong các ao nuôi tôm; vùng ven biển, vùng triều, ven các đảo Kỹ thuật trổng rong sụn đơn giản, đầu tư ít. Ðặc biệt, rong sụn có tác dụng quan trọng trong việc hấp thụ một số các yếu tố nhiễm bẩn hoặc các kim loại nặng trong môi trường biển. Do vậy, người ta có thể nuôi trồng kết hợp rong sụn trong các ao nuôi tôm, trong các đầm, vịnh để hạn chế ô nhiễm môi trường.

2. Nguồn gốc rong sụn

        Rong sụn là loài rong biển nhiệt đới, có nguồn gốc từ Philippin. Tháng 02/1993, trong chương trình hợp tác khoa học Việt Nam và Nhật Bản, Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang đã nhập về Việt Nam một bụi rong sụn 240g. Tháng 10/1993, với sự giúp đỡ của Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang, Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận đã nhận 5 kg rong sụn về trồng thử nghiệm tại đầm Sơn Hải. Hiện tại, rong sụn đã được trồng rộng rãi tại một số vùng trong tỉnh và các tỉnh khác như : Khánh Hoà, Phú Yên, Phú Quốc (Kiên Giang), Bình Thuận Vì vậy, có thể khẳng định rằng, rong sụn là đối tượng trồng phù hợp với nhiều loại hình mặt nước, được đánh giá là có nhiều ưu điểm so với một số loài rong biển hiện có ở địa phương. Rong sụn đã tạo ra nguồn nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu.

3. Ðặc điểm sinh học

        Rong sụn là loài rong nhập nội, có đặc tính dòn dễ gãy khi tươi. Vì vậy, các nhà khoa học tại Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang đã thống nhất đặt tên Việt Nam cho loài rong này là rong sụn. Ðặc điểm này cũng được sử dụng để phân biệt với các loài rong hiện có ở Việt Nam, trong sản xuất, giao dịch thương mại, trao đổi tư liệu.

        Rong sụn có thân dạng trụ tròn. Ðường kính thân chính có thể đạt tới 20 mm. Từ trọng lượng 100 gam ban đầu, sau một năm, rong sụn có thể tăng trưởng thành bụi rong, nặng 14 - 16 kg. Rong sụn chia nhánh rậm rạp, kiểu tự do, không theo quy luật, thể chất trơn nhớt, keo sụn, có màu nâu xanh, thân dòn dễ gãy, khi khô thành sợi cứng như sừng. Rong sụn có tốc độ tăng trưởng tới 10%/ngày.

        Rong phát triển tốt ở nhiệt độ 25 - 28oC. Trong tự nhiên, rong có thể sống và phát triển ở nhiệt độ từ 20 - 34,5oC. Ðộ mặn thích hợp nhất cho rong sinh trưởng, phát triển, cho năng suất cao, chất lượng tốt là từ 29 - 34. Tuy nhiên, trong điều kiện độ mặn từ 20 - 28, rong sụn vẫn cho tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn 5%/ngày. Rong sụn sinh sản chủ yếu là hình thức dinh dưỡng. Cá thể mới hình thành từ những nhánh, những bụi đứt ra từ cơ thể ban đầu.

        Yêu cầu về dinh dưỡng đối với rong sụn không cao. Trong điều kiện nhiệt độ bình thường (30oC), có nước trao đổi thường xuyên, rong sụn hầu như không đòi hỏi nhiều về các chất dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng có trong nước biển đủ cung cho rong sụn phát triển. Trong điều kiện nước tĩnh (ao, đìa), ít được trao đổi nước, nhiệt độ nước cao (mùa hè), rong sụn đòi hỏi dinh dưỡng (các muối Amon và Photphate). Do vậy, cần lưu ý đến việc bón phân N, P, K với liều lượng 1 - 3 kg/1.000 m3/ngày để giúp rong sụn có khả năng chống chịu được điều kiện nắng nóng, cường độ chiếu sáng cao.

4. Kết quả trồng rong sụn ở Ninh Thuận

        Nhờ sự giúp đỡ của các nhà khoa học thuộc Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang, Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận đã xây dựng thành công mô hình trồng thử nghiệm rong sụn tại đầm Sơn Hải. Với 5 kg rong giống ban đầu, sau 8 tháng trồng (31/10/1993 đến 31/5/1994) đã tăng lên 30.000 kg (tăng 6.000 lần). Rong được phơi khô 20.000 kg. 10.000 kg rong giống được chuyển giao cho 50 hộ trồng rong tại đầm Sơn Hải.

        Trung tâm Khuyến ngư tiếp tục nhân rộng mô hình trồng rong sụn ra các vùng khác trong tỉnh như : ven biển Khánh Hội, Mỹ Hoà, Cà Ná, đầm Vĩnh Huy, đầm Nại. Rong được trồng trong các thuỷ vực khác nhau như : đầm, vịnh, bãi ngang ven biển, trong ao nuôi tôm. Hiện tại, số hộ trồng rong sụn trong tỉnh đã tăng lên 400 hộ, với diện tích 400 ha. Thu nhập bình quân của mỗi hộ từ 15 - 20 triệu đồng/năm. Một số hộ có thu nhập khoảng 50 - 60 triệu đồng. Sản lượng rong khô hằng năm ở Ninh Thuận khoảng 300 - 400 tấn. Những nơi đã hình thành vùng trồng rong nguyên liệu của tỉnh là : Sơn Hải, Cà Ná, đầm Nại và một số vùng ven biển.

        Kết quả nghiên cứu và triển khai trồng rong sụn cho thấy : rong sụn sinh trưởng và phát triển tốt ở các khu vực ven biển miền Trung Việt Nam. Thời gian trồng thích hợp nhất là từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau (vì có nền nhiệt độ và cường độ ánh sáng không cao), phù hợp với đặc điểm thích nghi sinh trưởng và phát triển của rong sụn.

        Ninh Thuận, rong sụn được sản xuất quanh năm, nhưng thường tập trung trong hai vụ. Vụ một, từ tháng 4 - 8 (trồng ở các vịnh, đầm hồ, bãi ngang ven biển). Vụ hai, từ tháng 9 - 3 năm sau (trồng nhân giống trong các ao nuôi tôm, trong vịnh, đầm, ven biển, các bãi dọc) ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc. Vụ hai có nhược điểm mưa lũ làm ngọt hoá các đầm vịnh, gió mùa Ðông Bắc thổi mạnh dễ làm dứt, gẫy rong và hư hỏng các công trình đỡ rong. Tuy nhiên, mưa lũ thường xảy ra vào các tháng 10, 11 và 12 hàng năm. Thời gian còn lại có nền nhiệt độ thấp rất thích hợp cho rong sụn phát triển tốt, cho năng suất và sản lượng cao.

        Nghề trồng rong sụn đã góp phần khai thác có hiệu quả các loại hình thuỷ vực, mặt nước ven biển, đồng thời, cải thiện môi trường, tạo không gian sống và nơi cư trú của nhiều loài tôm, cá nhỏ ven bờ, giải quyết việc làm thường xuyên cho nhiều bà con nông ngư dân ven biển, tăng thêm thu nhập và từng bước góp phần cải thiện đời sống, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở các vùng nông thôn ven biển. Do đó có thể nói, rong sụn đã trở thành đối tượng giúp nông, ngư dân xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho một bộ phận không nhỏ cho cộng đồng dân cư ven biển.

5. Xu hướng phát triển, các giải pháp kinh tế-xã hội.

        Những năm qua, Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận đã phối hợp với Phân viện Khoa học Vật liệu Nha Trang hướng dẫn, phổ biến và tập huấn kỹ thuật, khảo sát, điều tra, qui hoạch và đề xuất các giải pháp kỹ thuật phát triển trồng rong sụn ở trong tỉnh. Do đó, nghề trồng rong sụn đã từng bước phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể cho người trồng. Rong sụn đã được xác định là đối tượng tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần xoá đói giảm nghèo cho dân cư sống ven biển Ninh Thuận. Ðến nay, nghề trồng rong sụn đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho trên 400 hộ dân với diện tích trồng 400 ha mặt nước ở trong các đầm, vùng bãi ngang ven biển, ao đìa nuôi tôm, vì vậy, đã tận dụng được các diện tích mặt nước lâu nay còn bỏ trống, hoạt động kém hiệu quả. Hằng năm, người trồng thu trên 300 tấn rong sụn khô, cung cấp cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu.

        Từ năm 2002, Ninh Thuận đã tìm được đầu ra ổn định, xuất khẩu với số lượng lớn rong sụn. Tỉnh đã xây dựng các chương trình, chính sách đầu tư, phát triển trồng, thu mua và xuất khẩu rong sụn. Mô hình tổ chức gắn chặt năm Nhà được phối hợp rất tốt : Nhà khoa học - tư vấn khoa học kỹ thuật, Nhà thu mua - hợp đồng bao tiêu sản phẩm, Nhà đầu tư - cho vay vốn sản xuất, Chính quyền địa phương - quản lý và phân chia mặt nước cho các hộ dân, Trung tâm Khuyến ngư - tổ chức tập huấn và trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật. Qua đó, đã tạo bước phát triển với qui mô lớn của nghề trồng rong sụn tại địa phương. Với đà phát triển này, trong vài năm tới, diện tích trồng và sản lượng rong sụn của Ninh Thuận sẽ tăng đáng kể. Dự kiến, đến năm 2005 sản lượng rong khô xuất khẩu sẽ đạt khoảng 1.000 tấn khô/năm.

        Với những kết quả trên, nghề trồng rong sụn sẽ được phát triển bền vững tại Ninh Thuận .

Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến ngư Ninh Thuận



° Các tin khác
• Trồng sắn dây
• Bến Tre: ca cao "đắt hơn tôm tươi"
• Rau quả Việt Nam có thêm thị trường xuất khẩu mới
• Trà Vinh: trồng 28.300 ha rau màu vụ đông- xuân
• Nhiều biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Việt Nam
• Trồng cỏ trên đất hoang hóa bằng rải lót nilon
• Đồng bằng sông Cửu Long: Vì sao xuất khẩu gạo Jasmine thất bại?
• Vitas quảng bá thương hiệu chè tại Mỹ
• Phát triển cây thuốc lá ở vùng cao
• Ghi nhận từ Hội Làm vườn xã Thanh Nga
• Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai): Làm thế nào để phát triển bền vững?
• Lúa gạo tăng giá
• (Bộ Tài nguyên và Môi trường-11/11/2005) Kon Tum: Cạn kiệt sâm Ngọc Linh
• Cây sầu riêng
• Cây hồng
• Quảng bá nhiều thương hiệu nông sản
• Phú Thọ: Phục tráng giống lúa nếp thơm và giống khoai tầng vàng đặc sản
• Mô hình sen-cá ở Quảng Điền
• Trà Vinh: vùng mía nguyên liệu đạt thu nhập trên 50 triệu đồng/ha
• Bình Định: Mở rộng diện tích sản xuất lúa lai
• Hậu Giang: mất trắng trên 1.100 ha lúa đông - xuân mới gieo sạ
• Việt Nam gia nhập Cộng đồng hạt tiêu quốc tế
• Trồng tre Bát Độ hiệu quả kinh tế cao
• Giá trị cây chè
• Tình hình xuất khẩu cao su tại cửa khẩu Móng Cái
• Cây ca cao ở Việt Nam: Con đường nào để phát triển bền vững?
• Khai thác mủ cao su sau 7 năm trồng thử nghiệm
• Đắc Lắc: cà phê chưa thu hái đã bung hoa trắng xoá
• Giá lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tăng nhẹ
• Giá cà phê trong nước bắt đầu tăng mạnh

 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb