Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Nuôi

Để nuôi được đàn Dê đạt hiệu quả cao

Giới thiệu những giống dê hiện có ở Việt Nam

Dê địa phương (một số nơi còn gọi là “dê cỏ”): có màu lông khá khác nhau, đa số màu vàng nâu hoặc đen loang trắng; trọng lượng trưởng thành 30 – 35 kg, sơ sinh 1,7 – 1,9 kg, 6 tháng tuổi 11 – 12 kg; khả năng cho sữa 350 – 370 g/ ngày với chu kỳ cho sữa là 90 – 105 ngày; tuổi phối giống lần đầu 6 – 7 tháng, đẻ 1,4 lứa/ năm 1,3 con/ lứa, tỷ lệ nuôi sống đến cao sữa 65 – 70%; phù hợp với chăn thả quảng canh với mục đích lấy thịt.

Dê Bách Thảo: Là giống dê kiêm dụng sữa thịt, cho đến nay người ta cũng chưa xác định rõ nguồn gốc của nó. Một số người cho rằng nguồn gốc của nó là con lai giữa dê British-Alpine từ Pháp với dê Ấn Độ đã đuợc nhập vào nước ta, nuôi qua hàng trăm năm nay. Dê này có màu lông đen loang sọc trắng, tai co cụp xuống; trọng lượng trưởng thành 40 – 45 kg dê cái, dê đực 75 – 80 kg, sơ sinh 2,6 – 2,8 kg, 6 tháng 19 – 22 kg; khả năng cho sữa là 1,1 – 1,4 kg/ ngày với chu kỳ cho sữa là 148 – 150 ngày; tuổi phối giống lần đầu là 7 – 8 tháng, đẻ 1,7 con/ lứa và 1,8 lứa/ năm. Dê hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn, hoặc nhốt kết hợp chăn thả ở các vùng, và đều cho kết quả chăn nuôi tốt.

Dê Jumnapari: Là giống Ấn Độ được nhập vào nước ta từ năm 1994, có màu lông trắng tuyền, chân cao; trọng lượng trưởng thành 42 – 46 kg, con đực 70 – 80 kg, sơ sinh 2,8 – 3,5 kg, 6 tháng 22 – 24 kg; khả năng cho sữa 1,4 – 1,6 kg với chu kỳ 180 – 185 ngày. Tuổi phối giống lần đầu 8 – 9 tháng; đẻ 1/3 con/ lứa, 1,3 lứa/ năm. Dê phàm ăn và chịu đựng tốt với thời tiết nóng bức.

Dê Beetal: Cũng là 1 giống dê Ấn Độ được nhập về cùng lúc với dê Jumnapari; màu lông đen tuyền hoặc lông trắng, tai to dài cụp; khả năng sản xuất tương đương dê Jumnapari; phàm ăn và hiền lành.

Dê Barbari: Là giống dê được nhập về từ Ấn Độ có màu lông vàng loang đốm trắng như hươu sao, tai nhỏ thẳng; trọng lượng trưởng thành 30 – 35 kg; dê có bầu vú phát triển, khả năng cho sữa 0,9 – 1 kg/ ngày với chu kỳ 145 – 148 ngày; khả năng sinh sản tốt đẻ (18 con/ lứa và 1,7 lứa/ năm). Dê có thân hình thon chắc, ăn rất tạp, chịu đựng kham khổ tốt, hiền lành phù hợp với hình thức chăn nuô ở nước ta.

Dê Alpine: Là giống dê sữa của Pháp (nuôi nhiều ở vùng núi Alpes), màu lông chủ yếu màu vàng, đôi khi đốm trắng, tai nhỏ thẳng; trọng lượng trưởng thành 40 – 42 kg, con đực 50 – 55 kg, sản lượng sữa 900 – 1000 lít/ 1 chu kỳ cho sữa 240 – 250 ngày. Dê Alpine đã được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và tỉnh Ninh Thuận; tinh cọng rạ của giống dê cũng được nhập về từ Pháp, đang được dùng để lai tạo với dê trong nước, bước đầu đã cho kết quả tốt.

Dê Saanen: Là giống dê chuyên dụng sữa của Thụy Sĩ, nuôi nhiều ở Pháp và các nước châu Âu; dê có màu lông trắng, tai vểnh nhỏ; có năng suất sữa cao 1000 – 1200 kg sữa/ chu kỳ trong 290 – 300 ngày. Trọng lượng con cái trưởng thành 45 – 50 kg, con đực 65 – 75 kg. Giống dê Saanen cũng đã được nhập vào nước ta bằng tinh cọng rạ, và đã dùng lai tạo với dê Bách Thảo, cho kết quả tốt. Mới đây, chúng ta nhập 25 dê Saanen về Việt Nam nuôi thử nghiệm và đang theo dõi thích nghi chúng.

Dê Boer: Là giống dê chuyên dụng thịt, có nguồn gốc từ châu Phi, nay được nuôi nhiều ở Mỹ, châu Phi. Giống dê này có màu lông nâu, có vòng trắng quanh cổ. Con đực nặng tới 100 – 160 kg, con cáinặng tới 90 – 110 kg. Dê này có cơ bắp rất đầy đặn, sinh trưởng nhan. Để phát triển giống dê thịt quí này, ở Mỹ đã thành lập một Hội chăn nuôi dê thịt Boer. Nhiều nước đã nhập giống dê thịt phù hợp với điều kiện ở từng nước.

Các con lai: Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây đã tiến hành nghiên cứu hàng loạt các công thức lai giữa các giống dê. Dê Bách Thảo đực lai với dê cái Cỏ, cho con lai F1 và P2. Con lai sinh trưởng và tăng trọng tốt, khả năng sinh sản và cho sữa đều cao hơn dê cỏ từ 25 – 30%, có khả năng thích ứng với chăn nuôi ở nhiều vùng nước ta. Sử dụng dê đực 3 giống dê Ấn Độ lai với dê Cỏ và dê Bách Thảo, cho con lai cũng có khả năng sản xuất cao hơn so với dê Cỏ và dê Bách Thảo thuần.

Với tập đoàn giống dê phong phú nêu trên, vừa tiến hành nhân thân ở những nơi có điều kiện nuôi thâm canh, vừa đểy mạnh công tác lai tạo; nâng cao từng bước năng suất đàn dê, chắc chắn trong tương lai không xa, công tác giống dê sẽ góp phần tích cực trong việc hình thành và phát triển ngành chăn nuôi dê sữa – thịt của nước nhà.

Các chất dinh dưỡng trong thức ăn chăn nuôi

Muốn cho gia súc tạo ra sản phẩm chăn nuôi thì phải cho gia súc ăn thức ăn có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết, thông qua cơ thể, gia súc sẽ biến đổi các chất dinh dưỡng của thức ăn thành sản phẩm chăn nuôi có giá trị dinh dưỡng cao để làm thực phẩm cho con người. Những chất dinh dưỡng thiếu thường xảy ra đối với các vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin và các chất khoáng vi lượng. Thức ăn gia súc thiếu chất thì sản phẩm do gia súc làm ra cũng bị thiếu hay có thể nói “Thức ăn gia súc cũng là thực phẩm cho con người”

Nước trong dinh dưỡng của động vật:

  • Nước là môi trường hay dung môi không thể thiếu được; nước không cung cấp năng lượng, song giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sống. Theo Rubner nếu mất tới 2/10 lượng nước cơ thể thì con vật sẽ chết.
  • Vai trò của nước:
    o Tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn .
    o Vận chuyển vật chất .
    o Tham gia vào những phản ứng hóa học .
    o Điều hòa áp suất thẩm thấu, thực hiện trao đổi chất giữa tế bào và dịch thể .
    o Giữ thể hình con vật ổn định, làm giảm tác dụng ma sát .
    o Tham gia tích cực trong quá trình điều tiết thân nhiệt .
 
  • Tạo thành sản phẩm chăn nuôi: Thịt có tỷ lệ nước: 70-80%, Sữa: # 85%; Trứng: # 70%
  • Nguồn cung cấp nước và sự phân bố nước trong thức ăn: Nước cung cấp cho con vật gồm 3 nguồn: nước uống, nước trong thức ăn và nước trao đổi:
    o Nước uống: Yêu cầu nước mát, sạch, cung cấp đầy đủ và kịp thời cho thú. Nếu cung cấp không đầy đủ thì thú bị táo bón, các độc tố chậm thải ra ngoài gây hại cho cơ thể. Những ngày trời nóng lượng nước uống có thể tăng gấp rưỡi hoặc gấp hai. Cho thú ăn mặn cũng làm tăng nhu cầu nước uống.
    o Nước trong thức ăn: Tùy theo loại thức ăn, thời gian sinh trưởng của cây trồng, kỹ thuật canh tác và chế biến mà hàm lượng nước trong thức ăn có thay đổi . Nước trong thức ăn non xanh, củ quả cao hơn thức ăn hạt. Thức ăn trồng dưới nước có hàm lượng nước cao hơn thức ăn trồng trên cạn. Trong thức ăn, cũng có 2 dạng nước: Nước kết hợp liên kết với các phân tử chất hữu cơ và vô cơ trong thức ăn; Nước tự do hay nước hoạt động, dễ dàng bay hơi, dễ gây hư hỏng thực phẩm trong quá trình bảo quản. Đây là nguồn nước cung cấp cho nhu cầu của thú.
    o Nước trao đổi: nước sinh ra trong cơ thể do quá trình oxy hóa chất hữu cơ.

Các trạng thái khô của thức ăn:

  • Trạng thái khô không khí: Tất cả các loại thức ăn khi đem phơi khô hoặc sấy khô ở điều kiện 60oC thì chỉ có lượng nước tự do bay đi, lượng nước kết hợp vẫn còn tồn tại trong thức ăn, người ta gọi trạng thái khô này là khô không khí. Tùy theo loại thức ăn mà ở trạng thái khô này có độ ẩm từ 9 – 16%. Tiêu chuẩn Quốc tế qui định trạng thái khô này đối với thức ăn hỗn hợp là 13% độ ẩm.
  • Trạng thái khô tuyệt đối: Thức ăn sấy ở điều kiện nhiệt độ cao 105oC trong 3 giờ, sau đó đưa qua bình hút ẩm sẽ có ở trạng thái khô tuyệt đối.

MỘT SỐ BỆNH THÔNG THƯỜNG TRÊN DÊ

  • Mặc dù dê được khắp thế giới công nhận là gia súc có sức sống mãnh liệt, nhưng trên đàn dê sữa cao sản, dê thịt tăng trưởng nhanh sẽ có sức đề kháng bệnh kém hơn. Do đó phòng ngừa bệnh bằng cách quản lý, nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại đúng mức và chủng ngừa thường xuyên sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các chi phí về thuốc men, thú y, chăm sóc thú bệnh và giảm ïnăng suất sẽ làm hao tốn nhiều tiền bạc trong một thời gian ngắn. Nhiệt độ và ẩm độ cao ở vùng nhiệt đới là điều kiện tốt cho vi trùng và ký sinh trùng phát triển hay sống tiềm sinh trong một thời gian dài. Do đó nhà chăn nuôi phải thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe để có thể phát hiện và điều trị kịp thời. Sau đây là các bệnh thông thường trên dê:
  • Bệnh tiêu chảy: Trên dê con do sức đề kháng còn yếu dê dễ bị nhiễm các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy do vú hay sữa mẹ bị nhiễm. Dê con thường mắc bệnh trong 4 - 10 ngày tuổi. Phân nhão có màu trắng tới vàng và nhão, sau đó thành dịch lỏng có mùi hôi. Do bị mất nước nên dê con ốm, lông xù. Vệ sinh chuồng trại tốt, bú đủ sữa đầu có thể phòng được bệnh này. Trước tiên cho dê con uống dung dịch điện giải để tránh mất nước và có thể điều trị bằng kháng sinh như neomycin hay sulfamide như sulfaguanidin. Trên dê lớn có thể do nhiễm độc từ thức ăn hay ký sinh trùng hoặc cả hai. Phải tìm ra nguyên nhân để điều trị.
  • Bệnh viêm phổi: Xảy ra trên mọi lứa tuổi ở dê. Bệnh có thể do Mycoplas-ma. Bệnh này có thể lây lan do giọt nước mũi của thú bệnh. Bênh xảy ra nhiều lúc ẩm ướt và có thể tử vong đến 100%. Hiện đã có vaccin phòng ngừa, nhưng chưa có ở nước ta. Ngoài ra bệnh có thể gây ra do Pastuerella như P. haemolytica hay P. multocida. Bệnh xảy ra khi thú bị stress như khi bị vận chuyển xa. Có thể chữa trị bằng kháng sinh như ampicilline, kanamycine hay tylosin hoặc sulfamid kết hợp với các thuốc trợ lực như caffein, sinh tố C, B.
  • Bệnh viêm ruột hoại tử: Gây ra do độc tố của trực trùng hiếm khí Clostridium perfringens nên mầm bệnh có thể tồn tại trong thiên nhiên rất lâu và lan truyền theo thức ăn, nước uống. Dê bệnh bỏ ăn, mệt mỏi, tiêu chảy có lẫn dịch nhờn hay máu và rất thối. Dê hay nằm, sốt cao sau cùng có triệu chứng thần kinh và chết. Phòng ngừa bằng vaccine. Có thể điều trị bằng kháng sinh như terramycine hay neomycine kết hợp với, tiêm truyền glucose, caffein. Nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt có thể hạn chế bớt tử số.
  • Bệnh viêm lở miệng truyền nhiễm: Lây lan rất nhanh xảy ra trên mọi lứa tuổi, nhưng xảy ra nhiều trên dê theo mẹ và dê sau cai sũa. Bệnh không trầm trọng. Phần trong miệng, môi bị sưng lở loét. Khi nặng có thể xảy ra ở mũi, mặt, tai và bầu vú. Bệnh gây ra do một loại virus hướng thường bì gây ra. Cách ly thú bệnh, sát trùng chuồng trại khu thú bệnh bằng vôi hay formaline. Dùng các dung dịchsát trùng như thuốc tím, nước muối, oxy già… sau đó bôi các thuốc kháng sinh dưới dạng thuốc mỡ hay bột lên vết thương sau khi thấm nước phèn. Nên tiêm thêm sinh tố A và C để tăng sức đề kháng. Đã có vaccine ngừa bệnh, nhưng có thể chưa có ở nước ta.
  • Bệnh tụ huyết trùng: Xảy ra ở mọi lứa tuổi ở dê. Nguyên nhân chính do Pastuerella multocida, nhưng thường kếât hợp với một số vi trùng cơ hội như streptococcus, staphylococcus, myco-plasma… lan truyền theo thức ăn, nước uống. Vi trùng Pastuerella thường tiềm sinh trong vùng thanh, khí quản nên khi dê bị stress như thời tiết thay đổi, vận chuyển đường dài, bị ký sinh trùng… bệnh sẽ phát triển. Triệu chứng điển hình là bỏ ăn, sốt cao, chảy nước bọt, nước mũi, khó thở, kết mạc sung huyết, vùng hầu, họng sưng to, tiêu chảy với phân có máu. Thể cấp tính làm dê chết rất nhanh. Do đó, phải tiêm phòng đầy đủ cho đàn dê. Nếu phát hiện kịp có thể điều trị bằng kháng sinh liều cao như oxytetracycline hay sulfamide.
  • Bệnh lở mồm, long móng: Trên dê mức độ lây lan vừa phải, cục bộ. Dê con mẫn cảm với bệnh nên dễ chết. Bệnh tích là các nốt loét ở bên trong miệng, lưỡi và các khe nứt giữa phần móng và phần mềm của bàn chân. Do đi lại, ăn uống khó khăn nên dê giảm sức tăng trọng, hay sản lượng sữa. Bệnh do virus nên không có thuốc đặc trị mà chỉ sát trùng vết thương và tăng cường sức đề kháng và chống phụ nhiễm. Tốt nhất là chủng ngừa.
  • Viêm kết mạc truyền nhiễm: Do một số vi trùng như mycoplasma, chlamydia… lan truyền vào tuyến lệ do tiếp xúc với thú bệnh hoặc gián tiếp do ruồi, côn trùng… Kết mạc mắt bị xung huyết, chảy nhiều nước mắt, có nhiều ghèn nên hai mí mắt bị dính lại. Dê sợ ánh sáng. Nếu nặng dê có thể bị mù mắt. Điều trị bằng cách dùng bông tẩm dung dịch sulfat kẽm 10% kết hợp với thuốc mỡ oxtetracycline với liệu trình 4 - 5 lần mỗi ngày. Nên tiêm thêm sinh tố A để giúp mắt chóng hồi phục.
  • Bệnh thối móng: Do vi trùng Spherophorus necrophorus truyền qua các vết thương ở chân. Nền đất ẩm ướt, nhiều chất hữu cơ là điều kiện thuận lợi cho vi trùng này phát triển. Do đó đàn dê chăn thả, di lại trên nền đất ẩm ướt thường bị bệnh này. Triệu chứng là các vết loét ở phần sừng và dưới lớp sừng móng chân chứa đầy dịch lỏng màu vàng, rất hôi thối làm cho cả vùng móng sưng lên, dê bị đau và sốt. Kết hợp bôi thuốc kháng sinh như tetran với ngâm chân trong hố ngâm có chứa dung dịch sulfat đồng 5% hay formalin 10% liên tục cho đến khi khỏi bệnh.
  • Bệnh cầu trùng: Do một loài nguyên sinh động vật Eimeria kết hợp với một số vi khuẩn đường ruột gây ra. Thường xảy ra trên dê con và dê hậu bị, lan truyền do ăn phải noãn nang cầu trùng đã nở ra trong môi trường kém vệ sinh, gây bệnh bên trong niêm mạc ruột. Triệu chứng là tiêu chảy có hay không có máu. Do thiếu máu nên dê xù lông, còi cọc, uể oải, biếng ăn, đau vùng bụng. Thuốc thường dùng là sulfamid. Phòng ngừa bằng cách nuôi dê trên sàn, vệ sinh môi trường.
  • Bệnh giun đũa: Dê non dễ cảm nhiễm hơn dê lớn. Lan truyền bằng ấu trùng thải ra ngoài theo đường thức ăn và nước uống. Mức độ nhiễm thể hiện qua thể lực yếu kém thiếu máu, lông xù, tiêu chảy. Nên nuôi nhốt và vệ sinh môi trường, tẩy giun định kỳ bằng levamisol, niclosamide, tetrasol, benzomidazole.
  • Bệnh sán dây: Do ăn phải ký chủ trung gian của sán dây. Triệu chứng tương tự như trên giun tròn. Điều trị bằng niclo-samide.
  • Bệnh sán lá gan: Thường do ăn cỏ ở các vùng đầm lầy. Do hai lòai Fasciola hepatica và Fasciola gigantica gây ra. Niêm mạc mũi, mắt, miệng có màu nhợt nhạt, thường tích nước ở dưới phần bụng, hàm dưới do sán phát triển ở gan, ống dẫn mật. Thuốc phòng và trị là Dertin - B.
  • Bệnh giun phổi: Do giun Dictyocaulus ký sinh trong các đường phế quản, phế nang của phổi. Dê bị còi cọc, xù lông, hay ho và chảy nước mũi vào buổi sáng sớm và chiều tối.
  • Ve: Hai loài ve chuyên bám trên da dê để hút máu là Damalina và Linognathus. Lây lan do tuyền trực tiếp hay gián tiếp qua môi trường. Do mất máu nên dê ốm còm, xù lông, ngứa ngáy. Thường xuyên chải lông để phát hiện kịp thời. Dùng một số thuốc sát trùng như asumtol, chlor-fervinfos…
  • Ghẻ: Có hai giống ghẻ là Psoroptes và Sarcoptes ký sinh trên da, lan truyền trực tiếp hay gián tiếp từ dê bệnh. Dê ngứa ngáy, rụng lông và đóng vẩy. Có thể dùng ivermectin hay cythion.

CẢI TẠO ĐÀN DÊ CỎ ĐỊA PHƯƠNG

  • Dê là gia súc nhai lại có tầm vóc nhỏ được nuôi ở nhiều nước trên thế giới.
  • Dê ăn được rất nhiều loại cỏ, lá cây. Dê nhanh nhẹn, dẻo dai, giỏi chịu đựng kham khổ, khả năng chống đỡ bệnh tật tốt, mắn đẻ, thời gian mang thai ngắn, tốc độ tăng đàn nhanh. Thịt dê, sữa dê là sản phẩm động vật có giá rị dinh dưỡng cao. Chăn nuôi dê cần ít vốn, quay vòng nhanh, có hiệu quả lại tận dụng được lao động nhàn rỗi trong gia đình.
  • Ở nước ta, từ xưa đến nay, trong điều kiện chăn thả tự nhiên, ít đầu tư, con dê là vật nuôi của những người nghèo.
  • Sử dụng dê Bách Thảo để cải tạo đàn dê cỏ địa phương

1. Mục tiêu cải tạo đàn dê cỏ địa phương:

  • Đàn dê cả nước có trên 514.000 con, trong đó hơn 90% là giống dê cỏ địa phương, số còn lại là giống dê Bách thảo.
  • Dê cỏ có nhược điểm tầm vóc nhỏ, chân thấp mình ngắn, năng suất thịt sữa thấp; dê đực trưởng thành đạt 40–44kg/con, dê cái 25–32kg/con; tỷ lệ thịt xẻ 39–41%, năng suất sữa chỉ có 350–370g/con/ngày, chu kỳ vắt sữa 90 – 105 ngày. Việc cải tạo đàn dê cỏ địa phương nhằm nâng cao tầm vóc, năng suất thịt sữa của dê cỏ, dần dần đưa khối lượng đàn dê cái lai (F1, F2… của Bách thảo x Cỏ) trưởng thành đạt 32–35kg/con, dê đực lai trưởng thành: 48–50kg/con, năng suất sữa đạt 90-120 kg/con/chu kỳ 150 ngày tỷ lệ thịt xẻ 41–42%, góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thịt, sữa ngày càng tăng của nhân dân.

2. Phương thức lai cải tạo dê cỏ bằng dê đực Bách thảo:

  • Sử dụng dê đực giống Bách thảo cho giao phối trực tiếp với dê cái cỏ (địa phương) để tạo dê lai (F1, F2…). Đây là phương thức lai tạo giản đơn, rẻ tiền, tỷ lệ thụ thai cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trước và ứng dụng được rộng rãi trong các vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn.
  • Sau khi đàn dê nhập ngoại như giống dê Jamnapari, Beetal (Ấn Độ), giống dê Saanen và Alpine (Pháp) có tầm vóc to, năng suất thịt, sữa cao được thích nghi, cũng sẽ được dùng để thực hiện chương trình cải tạo dê cỏ địa phương, và tạo giống dê sữa, dê thịt năng suất cao của Việt Nam sau này. 

3. Kết quả bước đầu:

  • Qua 4 năm (1994–1997) chương trình khuyến nông cải tạo đàn dê địa phương đã được đầu tư nhằm hỗ trợ một phần vốn cho dân mua dê đực giống, thức ăn, thuốc thú y và chi phí đào tạo, huấn luyện cho nông dân.
  • Ở 16 tỉnh thực hiện chương trình đã xây dựng 42 mô hình cải tạo dê cỏ, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi dê cho nông dân, tổ chức tham quan học tập mô hình , cung cấp dê đực giống Bách thảo để cải tạo đàn dê địa phương, 4 năm qua cũng đã hình thành một đội ngũ kỹ thuật viên chăn nuôi dê cơ sở.
  • Kết quả 4 năm qua đã phối giống cho 5.938 dê cái trong mô hình và hàng ngàn dê cái khác của địa phương cũng đuợc lai tạo trực tiếp bằng dê đực giống Bách thảo. Số dê lai (Bách thảo x Cỏ) đẻ ra nuôi được ở mô hình là 17.750 con.
  • Dê lai F1 có tầm vóc, khối lượng hơn hẳn dê địa phương.Dê lai F1 3 tháng tuổi nặng 9–11kg/con tăng 2,5–3kg/con so dê nội cùng tuổi. Dê lai F1 6 tháng tuổi nặng 15–17kg/con tăng 40% so với dê nội cùng tuổi.
  • Hiện nay, giá 1 dê lai 6 tháng tuổi thường cao hơn dê cỏ địa phương cùng tuổi . Dê lai dễ nuôi, ít phải đầu tư, lại có hiệu quả hơn dê nên chương trình cải tạo đàn dê địa phương được hàng ngàn hộ nông dân tham gia.

Báo Điện tử - thời báo Kinh Tế Việt Nam


 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb